Bàn về hai chữ “tử tế”

 

trong xă hội Cộng sản xă hội chủ nghĩa

 

________________________________________________________________________________________________ 

 

   Hai chữ “tử tế”, hiểu theo nghĩa nôm na, dân gian, th́ đó là sự quan tâm đúng mực nghĩa t́nh, sự đàng hoàng, sự hiểu người hiểu ta, thông cảm, thương yêu… Nhưng, xét theo từ nguyên của nó, khởi thủy của nó là chữ “chi tiết”, “con rể và con trai”, “gă tinh tế”… Như vậy, xét theo chiều dài lịch sử sử dụng và chuyển hóa ngôn ngữ, người Việt đă biết biến những từ vay mượn thành chữ của dân tộc, mang ư nghĩa, hồn cốt gần với dân tộc hơn để rồi, măi cho đến hôm nay, nói đến hai chữ “tử tế”, nghĩa của nó sẽ là sự quan tâm, chăm chuốt từ lúc sống cho đến lúc chết đi, con người vẫn đối xử tử tế với nhau trong từng chi tiết, một cách tinh tế và giàu ḷng trắc ẩn, tôn kính chẳng khác nào con rể và con trai đứng trước vong linh cha mẹ, nhạc phụ, nhạc mẫu… Đương nhiên, đó là cách nói và hiểu thậm xưng, bóng bẩy, nhưng nội hàm của nó vốn dĩ mang yếu tính của yêu thương và nhân cảm, nên cách hiểu, nói và định nghĩa này không sai. Có chăng, nó chỉ sai trong xă hội Việt Nam hiện tại. V́ sao lại có chuyện tréo ngoe như thế?

Có ba điểm giải để đi đến bản chất và truy nguyên v́ sao trong cái xă hội vốn biến thể một từ hoàn toàn vay mượn thành của ḿnh, mang hồn cốt dân tộc ḿnh để rồi nó sai ngay trong dân tộc ḿnh ngay thời điểm này. Đó là: Tính băng hoại của xă hội; Tính không chính danh trong kiến trúc thượng tầng xă hội và; Tính bị đánh tráo. Sở dĩ nói xă hội Việt Nam bây giờ không c̣n bao nhiêu người hiểu đúng chữ tử tế là v́ đời sống con người nh́n chung bị chi phối bởi h́nh tướng quá nhiều, cụ thể là tước vị, chức danh, những thứ phù hoa gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực phe nhóm và tội ác. Điều này rất dễ nhận biết khi thử t́m hiểu một người tử tế trong một doanh nghiệp, người ta sẽ dễ dàng chỉ ra rằng đó là ông giám đốc doanh nghiệp mà không cần suy nghĩ ǵ thêm, hay là khi hỏi một người nông dân rằng ai là người tử tế trong thôn, xă ông ta/ chị ta/ bà ta/ cô ta/ anh ta… Th́ dễ dàng nhận câu trả lời rằng đó là ông trưởng thôn hoặc ông chủ tịch xă. Xa hơn một chút, lên cấp huyện, tỉnh, người ta sẽ nói rằng đó là ông chủ tịch huyện, chủ tịch tỉnh mà không cần suy nghĩ ǵ thêm. Điều này thoạt nghe rất buồn cười, nhưng nghĩ cho kĩ, nó đáng khóc hơn là đáng cười.

V́ chưa bao giờ con người bị băng hoại, bị đánh lạc hướng như trong xă hội Cộng sản xă hội chủ nghĩa. Một xă hội lấy tội ác, sự tham lam và quyền lực phe nhóm, tính độc tài làm kim chỉ nam, làm tiêu chí hướng đến của những người có liên quan đến bộ máy nhà nước, những kẻ tham chính. Ba mươi mấy năm ở miền Nam và bảy mươi mấy năm ở miền Bắc, con người luôn sống trong sợ hăi quyền lực và thấp thỏm trong cơ chế xin – cho, cái ăn, cái mặc, chỗ ở luôn là nỗi ám ảnh ray rứt, mọi nhu cầu đổ về phía vật chất, chính v́ nhuộm quá lâu trong màu sắc vật dục, con người trở nên đớn hèn và lo sợ tương lai, sợ đói khổ, sợ ép chế, sợ bị báo thù… V́ mọi thứ sợ, con người bám chặt vào những tiêu điểm quyền lực nhằm tránh rắc rối, lâu dần thành thói quen và thành bản chất, thành định nghĩa, tiêu chí đạo đức xă hội. Cuối cùng, người ta định nghĩa sự tử tế, đạo đức bằng quyền lực và những ǵ tương đương quyền lực. Chính v́ thế mới có chuyện ông chủ tịch, ông giám đốc, kẻ có quyền thế được mặc nhiên thừa nhận là người tử tế. Chữ “tử tế” đă hoàn toàn bị đánh tráo khái niệm trong thời Cộng sản xă hội chủ nghĩa bới nỗi sợ hăi và quyền lực tập trung. Xă hội thật sự băng hoại, ruỗng nát khi hai chữ này bị hiểu lệnh lạc.

Sở dĩ cho đến bây giờ, sau ba mươi mấy năm, cả hai miền Nam – Bắc rơi vào t́nh trạng phần đông nhân dân hiểu lệch lạc hai chữ “tử tế” là v́ kiến trúc thượng tầng của nó bị hỏng ngay từ trứng nước. Những năm 1930, 1945, khi Hồ Chí Minh lên nắm quyền chủ tịch nước cùng hàng loạt hoạt động thổi phồng h́nh ảnh, diễn kịch nhân nghĩa và đẩy bản thân từ một con người b́nh thường, thậm chí là tầm thường trở thành bậc thánh nhân, hợp thức hóa danh vị chủ tịch Hồ - một danh vị chẳng có nhân dân nào đứng ra bầu cử hay đề cử, tự tung tự hứng và quản lư, lănh đạo đất nước bằng chính sách vừa giả nhân giả nghĩa lại vừa đầy hà khắc, thâm độc, gian ác, vô h́nh trung, mọi ư niệm về chính danh, về dân chủ, về quyền làm người và đạo đức xă hội bị lệch sang quĩ đạo quyền lực. Mọi biểu tượng đạo đức và giá trị đạo đức phải lấy Hồ Chí Minh làm tiêu biểu, thần tượng. Cuối cùng, lộng giả thành chân, con người mất hẳn khả năng phán đoán, suy xét, bị đám đông lôi cuốn.

Đương nhiên, trong thời đó, có nhiều trí thức và người dân nhận biết sự dối trá, xảo quyệt của nhà nước Cộng sản, nhưng họ không được phép nhận xét hoặc đưa ra chính kiến của ḿnh, những ai không biết giữ kẽ, trước sau cũng bị vạ vào thân. Trường hợp nhà trí thức Phan Khôi là một điển h́nh. Trong một lần, thư kư của Hồ Chí Minh đến mời ông đi họp, anh này nói: “Thưa cụ, bác mời cụ đến phủ Chủ tịch để họp ạ!”. Phan Khôi điềm nhiên hỏi: “Bác nào?”. Anh thư kư giật ḿnh, há hốc: “Th́ bác Hồ chứ c̣n bác nào nữa!”. Cụ Phan cười khẩy: “Anh về nói với chủ tịch của anh, tôi nhắn với ông ấy làm người cần phải sống có văn hóa, đạo đức nhé, tôi già bằng tuổi cha của anh ta, anh ta vẫn dám xưng bác với tôi là nghĩa lư ǵ? Cha già của dân tộc ư? Dân tộc này có từ thời Hùng Vương kia, bộ định làm cha của các bậc tiền nhân hay sao mà dám xưng là cha già dân tộc? Không biết già trẻ lớn bé ǵ sấc, cứ bạ đâu là xưng bác đó!”. Anh thư kư hằm hằm bỏ về, liền sau đó không bao lâu, gia đ́nh ông bị đày đọa đủ điều, và đỉnh điểm của tai vạ có lẽ là cuộc thanh trừng Nhân Văn Giai Phẩm mà đến nay nhắc lại c̣n ớn lạnh.

Tính không chính danh bao giờ cũng đi kèm thủ đoạn, v́ không muốn ṣng phẵng, không muốn để nhân dân bầu chọn tự do, muốn thâu tóm quyền lực về tay ḿnh và duy tŕ nó bằng chính sách độc tài, tàn bạo, nhà nước Cộng sản luôn đưa ra những qui chuẩn đạo đức và sắc lệnh có lợi cho họ, nguy hiểm hơn nữa là mọi sắc lệnh và qui chuẩn đạo đức xă hội đều bằng cách này hay cách khác thổi phồng h́nh ảnh người Cộng sản trở thành biểu tượng đạo đức, sự liêm chính và ít nhiều có tính thần thánh. Những ai không tuân phục, không tin đều bị trả giá, bị nguy hiểm. Một khi qui chuẩn đạo đức được xếp hàng ngang với quyền lực chính trị và tính bảo toàn quyền lực độc tài, tính chính danh hoàn toàn bị triệt tiêu từ kiến trúc thượng tầng xuống tầng lớp nhân dân. Và, theo thời gian, theo đà, đạo đức dân tộc bị đánh tráo bởi những định nghĩa quà qui chuẩn của kẻ độc tài. Kết cục, sự tử tế cũng hoàn toàn mất đi bởi nó đă bị đánh tráo bằng một thứ có gắn quyền lực, vật dục.

Và, một khi, sự tử tế bị đánh tráo, con người trở nên tàn nhẫn, gian ác và máu lạnh. Thử xét lại những câu chuyện thương tâm ở các trại tù cải tạo sau 1975, các chiến binh, sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đă nếm không biết bao nhiêu là đau khổ, tủi nhục và luôn đối diện với cái chết bởi sự o ép, đàn áp, hành xử dă man của Cộng sản. Đất nước tan hoang, gia đ́nh ly tán, ḷng người hoang mang bởi sự thù hận và những cuộc báo thù man rợ.

Có lẽ, man rợ nhất vẫn là lối hành xử  không có tính người đối với người đă khuất. Các nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Ḥa bị phá phách tan hoang, những tủ sách mang tư tưởng tự do bị mang ra đốt không thương tiếc, thay vào đó là sách tuyên truyền của nhà nước Cộng sản, những trí thức bị chà đạp, những thân phận dân đen bị đẩy ra ngoài lề xă hội, bị cướp cạn… Một đất nước tan tác đau thương sẽ dẫn đến ḷng người phân ly và mất niềm tin vào sự tử tế, mất niềm tin vào đạo đức xă hội, mất niềm tin giữa con người với con người. Thậm chí, những ai c̣n sống tử tế, biết quan tâm và chia sẻ nhau dựa trên căn bản văn hóa, văn minh, dân chủ sẽ bị xếp vào nhóm lập dị hoặc phản động. Thử hỏi, với đà này, con người làm sao c̣n duy tŕ đúng ư nghĩa hai chữ “tử tế” được?

Đáng sợ hơn nữa là trong xă hội đương đại, trong thế giới phẵng, khi mà chỉ cần một cú click mouse, con người ở bên này bán cầu có thể gặp người bên kia bán cầu ngay tức khắc, mọi biên giới về thời gian, mọi biên kiến tư tưởng hoàn toàn bị phá vỡ. Thế nhưng, hỡi ôi, định kiến của kẻ độc tài vẫn vững như bàn thạch, không ǵ lay chuyển. Thay v́ cần phải mở rộng, thay đổi và thích ứng với thế giới, nhà nước độc tài ngang nhiên biến sức mạnh tiến bộ thành kẻ thù địch, biến những cá nhân tiến bộ thành thế lực phản động. Và kinh tởm hơn cả là họ luôn sử dụng hành vi man rợ thành thứ biểu cảm xă hội để đe nẹt nhân dân. Điển h́nh là những cuộc đàn áp biểu t́nh bằng cách đạp vào mặt, bêu riếu lên truyền h́nh nhà nước, bắt nhốt, đánh đập cho đến chết… và tiếp tục đập phá nghĩa trang.

Nghĩa trang quân đội Biên Ḥa là một vết thương lịch sử và đạo đức của dân tộc Việt Nam. Thử nghĩ, với cái đà nhà nước toa rập với tư bản đỏ bơm giá đất lên cao chót vót để rồi mở những khu dân cư lên ngay trên nền đất mang sử tính, văn hóa, tâm linh để bán đấu giá cho dân, thổi phồng giá trị khiến dân ào ạt mua lấy mua để v́ nỗi lo chỗ ở cho con cái trong tương lai. Th́, liệu, khi con đường nhựa băng qua nghĩa trang Biên Ḥa, ai dám chắc vài năm sau họ sẽ không phân lô nghĩa trang để bán cho dân làm nhà. Nhất là với thứ chủ nghĩa vô thần, xem thường lịch sử và không hề biết kính cẩn nghiêng ḿnh trước người đă khuất, tha hồ quật mồ đối phương… Ai dám chắc sẽ không có khu dân cư mới trong khuôn viên nghĩa trang? Ai dám chắc rồi đây sẽ không có những ngôi nhà xây lấp mất phần mộ các liệt sĩ Việt Nam Cộng Ḥa?

Trong một đất nước mà chữ “tử tế” bị đánh tráo, bị định nghĩa lệch lạc, e rằng rất khó có ḷng trắc ẩn, t́nh yêu thương cũng bị biến mất và rồi đây, con người phải trả giá đắc nếu như họ không kịp tỉnh thức để nhận diện đúng và sai! E rằng điều này khó thực hiện nếu bóng ma Cộng sản c̣n lởn vởn trên quê hương!

Bửu Long

 

 

Home